Hiện nay, nhiều cặp đôi lựa chọn chung sống với nhau như vợ chồng trong thời gian dài nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Đến khi phát sinh mâu thuẫn, đặc biệt là tranh chấp về tài sản, không ít người cho rằng người đứng tên trên giấy chứng nhận sẽ đương nhiên là chủ sở hữu duy nhất. Quan điểm này chưa hoàn toàn chính xác.
Tình huống
Anh A và chị B chung sống với nhau từ năm 2014 như vợ chồng và có một con chung. Trong suốt thời gian chung sống, hai người cùng tích lũy tiền để mua một căn nhà.
Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở chỉ đứng tên anh A.
Đến nay, hai người chấm dứt việc chung sống. Chị B yêu cầu được chia giá trị căn nhà vì cho rằng mình có cùng đóng góp tiền và công sức để tạo lập tài sản. Trong khi đó, anh A cho rằng căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình vì giấy chứng nhận chỉ đứng tên anh.
Vậy trong trường hợp này, pháp luật quy định như thế nào?
Chưa đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng
Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý.”
Như vậy, dù anh A và chị B đã chung sống với nhau trong 10 năm và có con chung thì về mặt pháp lý, quan hệ giữa hai người không được công nhận là quan hệ vợ chồng nếu chưa đăng ký kết hôn theo quy định.
Điều này đồng nghĩa với việc các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình sẽ không được áp dụng để giải quyết tranh chấp tài sản giữa hai bên.
Tài sản sẽ được giải quyết như thế nào?
Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Theo quy định trên, việc giải quyết tài sản được thực hiện theo hai nguyên tắc:
- Trường hợp các bên tự thỏa thuận được thì Tòa án tôn trọng sự thỏa thuận đó.
- Nếu không thể thỏa thuận, tranh chấp sẽ được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và căn cứ vào chứng cứ chứng minh quyền sở hữu, quyền đóng góp của từng người.
Giấy chứng nhận chỉ đứng tên một người có phải là chủ sở hữu duy nhất?
Thực tế, nhiều người cho rằng người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở sẽ mặc nhiên là chủ sở hữu duy nhất.
Tuy nhiên, đây không phải lúc nào cũng là căn cứ quyết định khi phát sinh tranh chấp.
Giấy chứng nhận là chứng cứ quan trọng xác định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Tuy nhiên, nếu bên còn lại chứng minh được mình có cùng đóng góp tiền, tài sản hoặc công sức để tạo lập tài sản thì Tòa án vẫn có thể xác định họ có quyền sở hữu đối với một phần tài sản tương ứng với mức độ đóng góp.
Do đó, trong tình huống nêu trên, nếu chị B chứng minh được việc mình đã cùng góp tiền mua nhà, cùng trả nợ vay, cùng đầu tư xây dựng, sửa chữa hoặc có những đóng góp đáng kể vào việc tạo lập tài sản thì chị B có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu của mình đối với căn nhà.
Ngược lại, nếu không có căn cứ chứng minh việc cùng tạo lập hoặc cùng đóng góp thì yêu cầu chia tài sản của chị B có thể không được Tòa án chấp nhận hoặc chỉ được chấp nhận trong phạm vi chứng minh được.
Những chứng cứ có thể sử dụng để chứng minh việc cùng tạo lập tài sản
Trong các vụ án tranh chấp tài sản giữa nam, nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, chứng cứ đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Một số loại chứng cứ thường được Tòa án xem xét gồm:
- Chứng từ chuyển tiền, sao kê ngân hàng.
- Hợp đồng vay tiền để mua nhà.
- Giấy biên nhận góp tiền.
- Hợp đồng mua bán có thể hiện việc cùng tham gia giao dịch.
- Tin nhắn, email, ghi âm, hình ảnh thể hiện việc hai bên cùng thống nhất mua tài sản.
- Lời khai của người làm chứng.
- Chứng cứ chứng minh việc cùng quản lý, sử dụng, sửa chữa hoặc đầu tư vào tài sản.
Tòa án sẽ đánh giá toàn diện các chứng cứ để xác định tỷ lệ đóng góp của từng người, thay vì chỉ căn cứ vào người đứng tên trên Giấy chứng nhận.
Một số lưu ý
Việc không đăng ký kết hôn không làm mất quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản nếu một bên có căn cứ chứng minh mình đã cùng tạo lập tài sản.
Tuy nhiên, khác với trường hợp là vợ chồng hợp pháp, người yêu cầu chia tài sản sẽ phải có nghĩa vụ chứng minh phần quyền của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì vậy, trong quá trình chung sống, các bên nên lưu giữ đầy đủ các giấy tờ, chứng từ liên quan đến việc góp tiền, thanh toán, vay vốn hoặc đầu tư để làm căn cứ bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp.
Như vậy
Việc chung sống với nhau trong thời gian dài, thậm chí có con chung, không làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp nếu hai bên không đăng ký kết hôn.
Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc người không đứng tên trên Giấy chứng nhận sẽ mất hoàn toàn quyền đối với tài sản. Nếu chứng minh được mình đã cùng đóng góp tiền, tài sản hoặc công sức để tạo lập căn nhà thì vẫn có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tương ứng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.
Do đó, khi phát sinh tranh chấp về tài sản trong trường hợp chung sống như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn, việc chuẩn bị đầy đủ chứng cứ và lựa chọn phương án bảo vệ quyền lợi phù hợp là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với kết quả giải quyết vụ việc.